Cần Bao Lâu Để Kết Nối Trắc Ẩn Với Người Khác?

[create_shortcode_tag]
Ket-Noi-Trac-An

“Hãy tử tế bất cứ khi nào có thể. Tử tế luôn luôn là có thể.” – Đạt Lai Lạt Ma

Tôi Không Có Thời Gian

Một lý do khiến các NVYT không thể hiện lòng trắc ẩn là vì họ lo ngại sẽ mất thời gian, thứ vốn dĩ đã ít ỏi. Rốt cuộc, thời gian là tiền bạc trong chăm sóc y tế, phải không?

Thời gian rõ ràng là một yếu tố quan trọng trong hiệu quả và tính kinh tế của chăm sóc y tế. Vì vậy, có thực sự là mất nhiều thời gian hơn để cho bệnh nhân thấy lòng trắc ẩn?

Các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng 56% bác sĩ tin rằng họ không có thời gian để đối xử với bệnh nhân với lòng trắc ẩn.

Như bạn đã thấy trước đó, các NVYT thường cảm thấy họ quá bận rộn để có lòng trắc ẩn. Theo một nghiên cứu của Trường Y Harvard, hơn một nửa số bác sĩ cảm thấy như vậy: đặc biệt, 56% trong số họ tin rằng họ không có đủ thời gian để chữa trị cho bệnh nhân với lòng trắc ẩn.[8]

Nhưng tại sao ngày nay các NVYT lại bận rộn điên cuồng như vậy? Vì một lý do, có một sự thúc đẩy liên tục để họ thăm khám nhiều bệnh nhân hơn trong thời gian ngắn hơn. Đây thường là một áp lực tài chính, bởi vì các khoản thanh toán từ các công ty bảo hiểm cho các NVYT nói chung đang giảm xuống và chi phí vận hành một doanh nghiệp chăm sóc y tế tiếp tục tăng lên.

Để tránh bị phạt hoặc tổn thất doanh thu, các tổ chức chăm sóc sức khỏe phải tuân thủ ngày càng nhiều các quy tắc và quy định. Gánh nặng đó đổ thẳng lên vai những người chăm sóc bệnh nhân. Trên thực tế, nhiều số liệu về chất lượng chăm sóc sức khỏe do chính phủ liên bang Mỹ theo dõi chỉ dựa vào tài liệu này.

Một vấn đề tốn thời gian khác là nhu cầu ngày càng tăng đối với các nhiệm vụ hành chính để đáp ứng yêu cầu của bên đơn vị thanh toán (BHYT công, tư). Luôn có thêm các quy trình cần thiết để bệnh nhân nhận được sự chăm sóc mà họ cần. Mất nhiều thời gian để xin phép trước cho các dịch vụ hoặc khiếu nại các dịch vụ bị từ chối. Gánh nặng hành chính ngày càng tăng này khiến việc gặp nhiều bệnh nhân hơn trong khoảng thời gian ngắn hơn trở nên đặc biệt khó khăn.

Họ không còn thời gian cho lòng trắc ẩn? Lòng trắc ẩn đối với người khác được cho là một trong những lý do chính mà các NVYT đã chọn để theo đuổi nghề chăm sóc ngay từ đầu!

Điều này đặt ra câu hỏi rất quan trọng: Kết nối trắc ẩn thực sự mất bao nhiêu thời gian? Chúng ta hãy xem xét dữ liệu khoa học về thời gian thực sự cần thiết để tạo mối liên hệ nhân ái với bệnh nhân.

Cảnh báo: Bằng chứng có thể làm bạn ngạc nhiên.

Mất Bao Lâu Để Thể Hiện Được Lòng Trắc Ẩn?

Để giải quyết vấn đề về thời gian, các nhà nghiên cứu từ Đại học Johns Hopkins đã thực hiện một thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng ở bệnh nhân ung thư trong quá trình tư vấn với bác sĩ chuyên khoa ung thư.[3]

Thước đo kết quả chính cho nghiên cứu này là thang đo lường được kiểm chứng tốt đối với sự lo lắng của bệnh nhân. Nếu bạn hiểu được chẩn đoán ung thư là như thế nào, thì bạn đã biết rằng giảm lo lắng là một kết quả cực kỳ quan trọng đối với bệnh nhân ung thư.

Các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng, so với một cuộc tư vấn tiêu chuẩn từ bác sĩ chuyên khoa ung thư, các bệnh nhân được chọn ngẫu nhiên để được can thiệp bằng lòng trắc ẩn nâng cao từ bác sĩ ung thư ít lo lắng hơn đáng kể khi kết thúc cuộc tư vấn.

Vì vậy, sự can thiệp từ bi tăng cường là gì? Đó là một vài từ được đưa ra ở cả phần đầu và phần cuối của cuộc tư vấn .

Đây là thông điệp từ bác sĩ chuyên khoa ung thư, khi bắt đầu cuộc tư vấn:

“Tôi biết đây là một trải nghiệm khó khăn phải trải qua và tôi muốn ông/bà biết rằng tôi ở đây với ông/bà. Một số điều tôi nói với ông/bà hôm nay có thể khó hiểu, vì vậy tôi muốn ông/bà cứ thoải mái ngắt lời tôi nếu tôi nói điều gì đó khó hiểu hoặc hơi rối. Chúng ta ở đây cùng nhau, và chúng ta sẽ cùng nhau vượt qua điều này.”

Và sau đó khi kết thúc cuộc tư vấn, bác sĩ nói:

“Tôi biết đây là thời điểm khó khăn đối với ông/bà và tôi muốn nhấn mạnh một lần nữa rằng chúng ta đang cùng nhau vượt qua giai đoạn này. Tôi sẽ ở bên ông/bà từng bước trên con đường này.”

Việc nói như vậy mất bao lâu? Họ đã căn giờ: chỉ bốn mươi (40) giây.

Những bệnh nhân được chọn ngẫu nhiên vào chương trình can thiệp nâng cao lòng trắc ẩn và nghe những thông điệp này từ bác sĩ ung thư đã đánh giá bác sĩ ung thư là người nồng hậu và chu đáo hơn, cũng như nhạy cảm và giàu lòng trắc ẩn. Bệnh nhân trong nhóm tăng cường lòng trắc ẩn cũng đánh giá bác sĩ ung thư cao hơn về mong muốn điều tốt nhất cho bệnh nhân.

Nhưng điều đáng chú ý nhất là, bằng cách sử dụng thang đo khoa học đã được kiểm chứng để đo lường chính xác mức độ lo lắng của bệnh nhân, những bệnh nhân được chọn ngẫu nhiên vào chương trình can thiệp tăng cường tính từ bi thực sự có mức độ lo lắng thấp hơn đáng kể.

Thử nghiệm ngẫu nhiên có kiểm soát này cho thấy hai điều quan trọng: Thứ nhất, lòng trắc ẩn đối với bệnh nhân có thể làm giảm sự lo lắng mà họ đang trải qua một cách hiệu quả, từ đó cải thiện sức khỏe tâm lý của họ. Thứ hai, và có lẽ là quan trọng nhất, 40 giây đồng cảm là tất cả những gì bạn cần để tạo ra sự khác biệt có ý nghĩa cho bệnh nhân.

Bốn mươi (40) giây đồng cảm là tất cả những gì bạn cần để tạo ra sự khác biệt có ý nghĩa cho bệnh nhân.

Nhưng những kết quả này từ ĐH Johns Hopkins – chỉ mất bốn mươi (40) giây – chỉ là ngoại lệ hay quy luật? Chúng ta hãy xem thêm dữ liệu:

Trong hai (2) nghiên cứu từ Viện Nghiên cứu Dịch vụ Y tế Hà Lan, các nhà nghiên cứu đã thử nghiệm tác động của giao tiếp nhân ái đối với sự lo lắng của bệnh nhân ở những bệnh nhân nhận được “tin xấu” về chẩn đoán và tiên lượng của họ (ví dụ: tình trạng bệnh nan y).[4,5] Đáng chú ý là nghiên cứu này phải được tiến hành trên một mẫu bệnh nhân “tương tự”-những bệnh nhân khỏe mạnh tự đặt mình “vào vị trí” của một bệnh nhân nhận được tin xấu-bởi vì, tất nhiên, sẽ là phi đạo đức nếu chọn ngẫu nhiên một bệnh nhân nhận được tin xấu như vậy trong tình huống thiếu thốn lòng trắc ẩn.

Xin nhắc lại, nhiều nghiên cứu khoa học đã chỉ ra rằng việc sử dụng các bệnh nhân tương tự không chỉ có giá trị mà còn thực sự là một phương pháp tối ưu để nghiên cứu hiệu quả giao tiếp của NVYT với bệnh nhân, vì vậy chúng ta có thể tin tưởng vào kết quả nghiên cứu.[7]

Một nửa số đối tượng nghiên cứu nhận được tin xấu được chọn ngẫu nhiên để nhận thông tin tiêu chuẩn từ bác sĩ và nửa còn lại được chọn ngẫu nhiên để nhận thông tin theo cách nâng cao lòng trắc ẩn từ bác sĩ.

Sự can thiệp nâng cao lòng trắc ẩn bao gồm tất cả các thông tin giao tiếp sau đây từ bác sĩ:

“Dù chúng tôi làm gì, và dù điều đó diễn ra như thế nào, chúng tôi vẫn sẽ tiếp tục chăm sóc tốt cho ông/bà.”

“Chúng tôi sẽ ở bên cạnh ông/bà trên mọi nẻo đường.”

“Chúng tôi đang làm, và sẽ tiếp tục làm, những điều tốt nhất mà chúng tôi có thể cho ông/bà.”

“Dù có chuyện gì xảy ra, chúng tôi sẽ không bao giờ bỏ rơi ông/bà. Ông/bà không phải đối mặt với điều này một mình.

“Cùng nhau, chúng ta sẽ xem xét cẩn thận các quyết định mà ông/bà phải đưa ra và sẽ theo dõi chặt chẽ các mối bận tâm của ông/bà.”

Tương tự như nghiên cứu của ĐH Johns Hopkins, các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng những người tham gia được chọn ngẫu nhiên vào can thiệp nâng cao giao tiếp trắc ẩn có mức độ lo lắng thấp hơn đáng kể sau khi tham khảo ý kiến, được đo trên thang đo mức độ lo lắng đã được xác thực.

Nhưng đây là phần dữ liệu quan trọng nhất: Tổng cộng quá trình tăng cường giao tiếp trắc ẩn này mất bao lâu? Một lần nữa, họ đo thời gian: chỉ 38 giây. Tương tự như kết quả của nghiên cứu của ĐH Johns Hopkins, chỉ cần 38 giây là đủ để tạo ra sự khác biệt có ý nghĩa và có thể đo lường được.

Nếu Bệnh Nhân Còn Nhiều Mối Quan Tâm Và Cứ Hỏi Hoài Thì Sao?

Một người hoài nghi có thể chỉ trích những dữ liệu này là phiến diện, chỉ phản ánh phần giao tiếp của các NVYT. Thế còn về phần giap tiếp của bệnh nhân thì sao? Khi bạn tính đến điều đó, lòng trắc ẩn không mất nhiều thời gian hơn sao?

Các NVYT đôi khi bày tỏ lo ngại rằng nếu họ bắt đầu thường xuyên khám phá cảm xúc của bệnh nhân, điều đó có thể khơi gợi vô số mối quan tâm, nơi có vẻ như bệnh nhân sẽ không bao giờ ngừng nói, và do đó, NVYT sẽ không thể hoàn thành công việc của mình một cách hiệu quả. Như chúng ta đã thấy trong nghiên cứu của Trường Y Harvard ở phần đầu, 56% bác sĩ tin rằng họ không có thời gian để khám phá cảm xúc với bệnh nhân của mình theo cách thức này.[8]

Nhưng dữ liệu có sẵn trong tài liệu y sinh không ủng hộ suy nghĩ này. Trên thực tế, khi được đo lường chính xác, dữ liệu khoa học chứng minh rằng việc trao đổi từ bi với bệnh nhân thực sự tốn ít thời gian hơn nhiều so với người ta tưởng.

Ví dụ, các nhà nghiên cứu từ Đại học Northwestern đã nghiên cứu các bệnh nhân trong thế giới thực trong một phòng khám nội tổng quát, sử dụng một phương pháp đã được kiểm chứng để đo lường các cơ hội trắc ẩn của bệnh nhân và phản ứng tương ứng của các bác sĩ.[9]

Họ xác định đây là các chuỗi giao tiếp “cơ hội phản hồi”. Họ phát hiện ra rằng các chuỗi giao tiếp từ cơ hội phản hồi trắc ẩn mất trung bình…31,5 giây.

Chuỗi giao tiếp cơ hội phản hồi đầy trắc ẩn mất khoảng 30 giây.

31,5 giây này bao gồm việc nghe những gì bệnh nhân nói để tạo cơ hội cho kết nối trắc ẩn, cộng với phản ứng của NVYT, bao gồm “xác nhận” (truyền đạt rằng cảm xúc hoặc mối quan tâm của bệnh nhân là chính đáng) hoặc “theo đuổi” (hỏi bệnh nhân một câu hỏi tiếp theo hoặc cung cấp hỗ trợ).

Vì vậy, trình tự thời gian này bao gồm cả phần giao tiếp của bệnh nhân cũng như của bác sĩ. Trung bình, các cuộc trao đổi với lòng trắc ẩn nhiều nhất – bao gồm cả xác nhận hoặc theo đuổi – mất khoảng nửa phút.

Bây giờ, công bằng mà nói, nếu có một chuỗi dài các trình tự phản ứng cơ hội trắc ẩn giữa bệnh nhân và bác sĩ, thì nó có thể dài hơn. Ví dụ: nếu một bệnh nhân thực sự gặp khó khăn vào một ngày cụ thể và đặc biệt cần đến lòng trắc ẩn, thì việc trao đổi qua lại mười chuỗi giao tiếp trắc ẩn giữa bệnh nhân và bác sĩ sau đó có thể mất trung bình 315 giây (31,5 giây mỗi chuỗi cho 10 chuỗi).

Nhưng ngay cả khi như vậy, chúng ta hãy nhận ra rằng với mười (10) chuỗi đó tổng cộng chỉ hơn năm (5) phút. Và bằng chứng sẵn có chỉ ra rằng mức độ nhu cầu về lòng trắc ẩn này sẽ là một trường hợp ngoại lệ hoặc cực đoan.

Sự thật là bệnh nhân trong một số lần khám bệnh không biểu đạt bất kỳ nhu cầu nào về lòng trắc ẩn trong suốt quá trình thăm khám của họ, và do đó, thậm chí có thể không cần thêm ba mươi (30) giây. Ví dụ, trong nghiên cứu của ĐH Northwestern, nhiều lần đến phòng khám không có cơ hội trắc ẩn.

Nhưng trong số tất cả các lần khám tại phòng khám có một hoặc nhiều cơ hội trắc ẩn, số cơ hội trắc ẩn trung bình trên mỗi lần khám là 2,5. Hãy nghĩ về nó như thế này: Nếu một trình tự giao tiếp từ bi mất trung bình 31,5 giây và có 2,5 trình tự trên mỗi bệnh nhân, thì các NVYT có thể phải dành thêm 79 giây (trung bình) cho một bệnh nhân đang cần lòng trắc ẩn.

Vì vậy, nếu một trình tự duy nhất của giao tiếp với lòng trắc ẩn có thể mất nửa phút, liệu các NVYT có thể dành được khoảng thời lượng đó cho lòng trắc ẩn không? Làm thế nào cho trọn cả bốn mươi (40) giây, như trong nghiên cứu của ĐH Johns Hopkins?

Kết Nối Trắc Ẩn Có Kéo Dài Thời Gian Khám Của Bác Sĩ Không?

Những phát hiện trong các nghiên cứu này cũng được chứng thực bởi các nghiên cứu được tiến hành nghiêm ngặt khác cho thấy việc chăm sóc từ bi không làm tốn thêm thời gian đáng kể cho một cuộc thăm khám. Ví dụ, dữ liệu từ một nghiên cứu của Đại học California San Francisco về bệnh nhân nội trú nhập viện, trong đó mỗi lời nói nhân ái thêm vào từ bác sĩ điều trị tại bệnh viện đều có liên quan đến việc gia tăng (hoặc tích lũy) trong việc giảm sự lo lắng của bệnh nhân.[2]

Trong nghiên cứu đó, các nhà nghiên cứu cũng đo tổng thời gian gặp gỡ thăm khám – khoảng thời gian bác sĩ tiếp xúc trực tiếp với bệnh nhân – và nhận thấy rằng số lượng lời nói nhân ái từ bác sĩ không liên quan đáng kể đến thời gian gặp gỡ. Nhiều lòng trắc ẩn hơn không đồng nghĩa với thời gian thăm khám dài hơn. Vì vậy, dữ liệu hỗ trợ rằng lòng trắc ẩn không làm tăng thêm một lượng thời gian đáng kể vào tổng thời gian dành cho bệnh nhân.

Các kết quả tương tự đã được tìm thấy trong các nghiên cứu về bệnh nhân ở các cơ sở chăm sóc ban đầu. Trong một nghiên cứu do Viện Y tế Quốc gia (NIH) hỗ trợ, các nhà nghiên cứu từ Đại học Johns Hopkins đã tiến hành một thử nghiệm ngẫu nhiên có kiểm soát về đào tạo giao tiếp trắc ẩn (bao gồm cả kỹ năng “xử lý cảm xúc”) cho các bác sĩ.[6]

Họ phát hiện ra rằng, so với nhóm đối chứng gồm các bác sĩ chăm sóc ban đầu không được đào tạo đặc biệt, các bác sĩ được chỉ định ngẫu nhiên để đào tạo về xử lý cảm xúc được người bệnh xếp hạng cao hơn về sự chăm sóc nhân ái và bệnh nhân của họ ít đau khổ hơn về mặt cảm xúc. Và đây là một phát hiện đáng kinh ngạc có lẽ khiến các tác giả của nghiên cứu này cũng ngạc nhiên: Trong các cuộc đánh giá tiếp theo qua điện thoại, họ biết được rằng sự chăm sóc từ bi không chỉ làm giảm sự đau khổ về cảm xúc của bệnh nhân mà tác dụng còn kéo dài đến sáu (6) tháng sau khi đến phòng khám.

Nhưng các nhà nghiên cứu cũng quan tâm đến thời gian trong các lần khám tại phòng khám để nhận được những loại lợi ích đó. Vì vậy, họ đo thời gian mà các bác sĩ gặp mặt trực tiếp với bệnh nhân trong cuộc hẹn đầu tiên. Giả thuyết là có thể mất nhiều thời gian hơn để tạo ra một kết nối trắc ẩn.

Kết quả cho thấy là các bác sĩ được đào tạo về lòng trắc ẩn đã không tốn nhiều thời gian hơn đáng kể. Nó dài hơn một chút, nhưng sự khác biệt quá nhỏ nên không có ý nghĩa thống kê. So với nhóm đối chứng gồm các bác sĩ không được đào tạo đặc biệt, thời gian thăm khám tại phòng khám với các bác sĩ được đào tạo về lòng trắc ẩn trung bình chỉ dài hơn 54 giây.

Giảm đau khổ về cảm xúc cho người bệnh trong suốt sáu (6) tháng chỉ với 54 giây chăm sóc thêm? Đó là những lợi ích rất lớn so với sự tiêu tốn chưa tới một phút cho lòng trắc ẩn!

Ngoài ra chúng ta còn có thêm dữ liệu về thời gian cần thiết để tạo sự kết nối nhân ái với bệnh nhân từ kinh nghiệm của Christy Dempsey, giám đốc điều dưỡng tại Press Ganey, Inc. Một nhà lãnh đạo tư tưởng về trải nghiệm của bệnh nhân, Dempsey là tác giả của cuốn sách Thuốc giải độc cho đau khổ: Dịch vụ Chăm sóc Kết nối Nhân ái có thể Cải thiện An toàn, Chất lượng và Trải nghiệm Như Thế Nào (The Antidote to Suffering: How Compassionate Connected Care Can Improve Safety, Quality, and Experience).[10]

Trong 30 năm kinh nghiệm cá nhân của Dempsey trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, cả ở bên giường bệnh cũng như làm việc với các nhóm NVYT để cải thiện khả năng kết nối từ bi với bệnh nhân của họ, cô đã nhận thấy rằng để có một kết nối trắc ẩn có ý nghĩa, trung bình, cần 56 giây (và cô ấy báo cáo rằng nó hầu như không bao giờ vượt quá hai (2) phút).

Vấn Đề Nhận Thức Về Thời Gian

Với rất nhiều dữ liệu cho thấy thời gian cần thiết để thể hiện lòng trắc ẩn có ý nghĩa đối với bệnh nhân, trung bình là dưới một (1) phút, có thể nào niềm tin của các NVYT rằng họ không có thời gian dành cho lòng trắc ẩn chỉ là “ý nghĩ trong đầu họ” ?

Kết Nối Trắc Ẩn Tốn Chưa Tới 60 Giây

  • Bylund và cộng sự [9]:  32 giây 
  • Bensing và cộng sự [4,5]:  38 giây
  • Fogarty và cộng sự [3]: 40 giây 
  • Roter và cộng sự [6]: 54 giây
  • Christina Dempsey [10]: 56 giây 

Các nghiên cứu cho thấy rằng việc thể hiện lòng trắc ẩn với bệnh nhân chỉ mất chưa đầy một phút. Giá trị trung bình dựa trên năm (5) nghiên cứu này là 40 giây.

Có lẽ nó không thực sự là về thời gian thực, mà là về nhận thức của họ về thời gian.

Trong nghiên cứu về “người Samari nhân hậu” của Đại học Princeton,[1] đây là nghiên cứu về các chủng sinh (seminarians) (tức là các sinh viên đang học để trở thành mục sư của nhà thờ), trong đó chỉ có 40% các chủng sinh dừng lại để giúp đỡ một người rõ ràng đang đau khổ … một người đầu bù tóc rối, rên rỉ và nằm trong một con hẻm.

Trong nghiên cứu này, người gặp nạn là một “diễn viên đóng vai người cần giúp đỡ”. Và việc có nghe một bài giảng về câu chuyện ngụ ngôn Người Samari nhân hậu trong Kinh thánh ngay trước khi gặp người bị nạn không có tác động gì đến việc người chủng sinh có dừng lại để giúp đỡ hay không.

Nhưng bạn vẫn chưa nghe phần còn lại của câu chuyện. Nghiên cứu giải thích rằng một nửa số chủng sinh được chỉ định ngẫu nhiên để nghe một bài giảng về câu chuyện ngụ ngôn Người Samari nhân hậu, để xem liệu điều đó có tạo ra sự khác biệt trong hành vi giúp đỡ hay không. Và điều đó đã không xảy ra.

Nhưng các chủng sinh cũng được chọn ngẫu nhiên theo một cách khác. Tất cả các chủng sinh được hướng dẫn đến một tòa nhà khác gần đó trong khuôn viên trường để nhận nhiệm vụ tiếp theo. Làm như vậy, họ sẽ phải đi ngang qua người đang gặp nạn nằm trong ngõ.

Nhưng đây là cấp độ thử nghiệm ngẫu nhiên tiếp theo: Một nửa số chủng sinh được thông báo ngẫu nhiên rằng họ không cần phải vội vàng. Trong thử nghiệm này, các nhà nghiên cứu gọi đây là “tình trạng không vội vàng”. Một nửa số chủng sinh còn lại được hướng dẫn chính xác về tòa nhà tiếp theo, nhưng với một sự thay đổi.

Thay vì được yêu cầu đừng vội vàng, những chủng sinh này được thông báo rằng họ đã bị trễ cho nhiệm vụ tiếp theo và họ cần phải nhanh lên. Các nhà nghiên cứu gọi đây là “tình trạng vội vàng”. (Tất nhiên, các chủng sinh không thực sự bị trễ bất cứ việc gì cả; họ chỉ bị làm cho tin rằng họ đang vội mà thôi.)

Điều mà các nhà nghiên cứu phát hiện ra là các chủng sinh tin rằng họ đang vội vã đến đích có nhiều khả năng đi ngang qua người gặp nạn mà không dừng lại. So với các chủng sinh tin rằng họ đang vội, tỷ lệ các chủng sinh trong nhóm “không vội” dừng lại để giúp đỡ có ý nghĩa cao gấp sáu (6) lần. Cụ thể, 63% người thuộc nhóm “không vội” dừng lại để giúp đỡ, nhưng chỉ 10% những người trong nhóm “đang vội” dừng lại để giúp đỡ.

Các phân tích sâu hơn thậm chí còn tính đến nhiều yếu tố khác ngoài việc họ có nghe bài giảng về câu chuyện ngụ ngôn Người Samari nhân hậu hay không. Các nhà nghiên cứu đã xem xét các thuộc tính cá nhân của các chủng sinh – bao gồm cả mức độ “mộ đạo” của họ – và nhận thấy là tin rằng vội vàng là yếu tố duy nhất dự đoán liệu họ có dừng lại để giúp đỡ một người gặp khó khăn hay không. Và các chủng sinh thậm chí không thực sự trễ bất cứ điều gì…họ chỉ nghĩ rằng họ đã trễ.

Các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng việc tin rằng mình đang vội là yếu tố duy nhất dự đoán liệu những người tham gia có dừng lại để giúp đỡ một người đang gặp khó khăn hay không.

Vì vậy, bạn đã thấy rằng 56% bác sĩ tin rằng họ không có đủ thời gian cho lòng trắc ẩn. Và nó thực sự chỉ mất bốn mươi (40) giây hoặc lâu hơn. Có thể nào sự ngắt kết nối này – một vấn đề về nhận thức của các NVYT – là nguyên nhân chính dẫn đến cuộc khủng hoảng lòng trắc ẩn mà chúng ta gặp phải trong lĩnh vực y tế ngày nay?

Cho Đi Để Nhận Lại Nhiều Hơn

Trong một loạt thử nghiệm hấp dẫn của Trường Wharton thuộc Đại học Pennsylvania được công bố trên tạp chí Khoa học Tâm lý (Psychological Science), các nhà nghiên cứu đã kiểm tra nhận thức của một người về “sự dư dả về thời gian”.

Dư dả về thời gian là nhận thức về việc có nhiều thời gian, không vội vàng và do đó sẵn sàng dành nhiều thời gian hơn cho người khác.[11] Nghiên cứu này tìm cách xem xét các yếu tố quyết định đến sự sung túc về thời gian, và cụ thể là cách mọi người sử dụng thời gian của họ làm cho họ cảm nhận về thời gian mà họ có.

Những gì các nhà nghiên cứu tìm thấy thật đáng ngạc nhiên và có lẽ phản trực giác. Mặc dù lượng thời gian khách quan mà con người có không thể tăng lên – xét cho cùng, chỉ có 24 giờ trong một ngày – nghiên cứu này đã chứng minh rằng cảm giác chủ quan của con người về sự sung túc về thời gian (nghĩa là nhận thức rằng họ có nhiều thời gian) thực sự có thể được tăng. Giải pháp của họ cho vấn đề chung là cảm thấy mình không có đủ thời gian? Cho đi một ít!

Trong một loạt thí nghiệm, các nhà nghiên cứu này đã so sánh tác động của bốn điều đối với nhận thức của mọi người về sự sung túc về thời gian của họ: (1) dành thời gian giúp đỡ người khác, (2) dành thời gian cho bản thân, (3) lãng phí thời gian và (4) đạt được một vận may bất ngờ về thời gian “rảnh rỗi”. Họ phát hiện ra rằng việc dành thời gian giúp đỡ người khác thực sự làm gia tăng nhận thức của một người về sự sung túc về thời gian.

Trên thực tế, dành thời gian giúp đỡ người khác có sự gia tăng đáng kể về mặt thống kê trong nhận thức về thời gian dư dả so với thời gian dành cho bản thân, lãng phí thời gian hoặc có thêm thời gian rảnh rỗi. Các nhà nghiên cứu kết luận rằng cơ chế mà việc dành thời gian cho người khác nâng cao nhận thức của một người về sự dư dả về thời gian được thúc đẩy bởi ý thức cao về mục đích và hiệu quả của bản thân trong việc giúp đỡ người khác. Đó là, những cảm xúc tích cực liên quan đến việc tạo ra sự khác biệt cho người khác sẽ thay đổi cách mọi người cảm nhận về thời gian mà họ có.

Vậy thì điều này có liên quan gì đến lòng trắc ẩn?

Câu trả lời: Mọi thứ.

Nghiên cứu khá rõ ràng rằng cho đi thời gian thực sự mang lại cho bạn thời gian.

Nghiên cứu cho thấy 56% các NVYT tin rằng họ không có đủ thời gian cho lòng trắc ẩn, thì hoàn toàn có thể (dựa trên nghiên cứu nghiêm ngặt này của Đại học Pennsylvania) rằng việc dành thêm một chút thời gian cho lòng trắc ẩn đối với bệnh nhân sẽ thay đổi trải nghiệm của những NVYT theo cách khiến họ cảm thấy như họ thực sự có nhiều thời gian hơn cho lòng trắc ẩn.[8,11]

Dữ liệu ở đây khá rõ ràng…cho đi thời gian thực sự mang lại cho bạn thời gian!

Có lẽ khi xem xét chúng ta có bao nhiêu thời gian để thể hiện lòng trắc ẩn với người khác, chúng ta nên thực hiện bước nhảy vọt tiếp theo trong suy nghĩ của mình: kết nối trắc ẩn không nhất thiết phải mất thêm thời gian.

Dr. Robin Youngson, người đồng sáng lập tổ chức Hearts in Healthcare của Úc và là tác giả của cuốn sách Time to Care: How to Love Your Patient and Your Job, kể lại câu chuyện về một bệnh nhân nhập viện vì một căn bệnh hiểm nghèo. Nửa đêm về sáng, y tá vào phòng bệnh đánh thức anh dậy để truyền liều thuốc tiêm tĩnh mạch tiếp theo cho anh.[12,13]

Cô y tá mở toang cánh cửa cái rầm, đột ngột bật đèn lên và thô bạo kéo tấm ga trải giường của bệnh nhân lại để kiểm tra nhận dạng vòng đeo tay của anh ta. Sau khi tiêm xong liều thuốc, cô ấy bước ra khỏi phòng… để đèn sáng.

“Không thể nào nghỉ ngơi được ở nơi này,” bệnh nhân lẩm bẩm.

Hãy đối chiếu trải nghiệm này với đêm hôm sau, khi một y tá khác đang trực và thực hiện một cách tiếp cận hoàn toàn khác đối với cùng một nhiệm vụ với cùng một bệnh nhân. Cô rón rén đi vào phòng và dùng đèn pin để không phải bật đèn phòng trên trần cao. Cô nhẹ nhàng kiểm tra nhận dạng vòng đeo tay của anh ấy, và lặng lẽ truyền thuốc cho anh ấy trước khi rón rén ra khỏi phòng. Bệnh nhân không hề bị tỉnh giấc.

Người y tá nào đã trắc ẩn hơn? Mất thêm bao nhiêu thời gian?

Điểm mấu chốt trong câu chuyện của Youngson là khi các NVYT đang thực hiện các nhiệm vụ lâm sàng cần thiết, họ có thể làm như vậy với cách tiếp cận trắc ẩn hoặc với cái mà anh ấy gọi là “hiệu quả đột ngột”. Họ có thể chào đón bệnh nhân một cách nồng nhiệt và lôi cuốn họ vào cuộc trò chuyện về nhu cầu của người bệnh, hoặc cách khác, họ có thể đảm bảo bệnh nhân biết họ bận đến mức nào (hoặc họ nghĩ họ bận đến mức nào).[13]

Mỗi lựa chọn thực sự tốn chính xác cùng một khoảng thời gian.

Ghi chú:

  1. Darley, John M., and C. Daniel Batson. ““From Jerusalem to Jericho”: A Study of Situational and Dispositional Variables in Helping Behavior.” Journal of Personality and Social Psychology 27, no. 1 (1973): 100-08.
  2. Weiss, Rachel, Eric Vittinghoff, Margaret C. Fang, Jenica E. W. Cimino, Kristen A. Chasteen, Robert M. Arnold, Andrew D. Auerbach, and Wendy G. Anderson. “Associations of Physician Empathy with Patient Anxiety and Ratings of Communication in Hospital Admission Encounters.” Journal of Hospital Medicine 12, no. 10 (October, 2017): 805-10.
  3. Fogarty, L. A., B. A. Curbow, J. R. Wingard, K. McDonnell, and M. R. Somerfield. “Can 40 Seconds of Compassion Reduce Patient Anxiety?” Journal of Clinical Oncology 17, no. 1 (January, 1999): 371-9.
  4. van Osch, Mara, Milou Sep, Liesbeth M. van Vliet, Sandra van Dulmen, and Jozien M. Bensing. “Reducing Patients’ Anxiety and Uncertainty, and Improving Recall in Bad News Consultations.” Health Psychology 33, no. 11 (November, 2014): 1382-90.
  5. Sep, Milou S. C., Mara van Osch, Liesbeth M. van Vliet, Ellen M. A. Smets, and Jozien M. Bensing. “The Power of Clinicians’ Affective Communication: How Reassurance About Non-Abandonment Can Reduce Patients’ Physiological Arousal and Increase Information Recall in Bad News Consultations. An Experimental Study Using Analogue Patients.” Patient Education and Counseling 95, no. 1 (April, 2014): 45-52.
  6. Roter, D. L., J. A. Hall, D. E. Kern, L. R. Barker, K. A. Cole, and R. P. Roca. “Improving Physicians’ Interviewing Skills and Reducing Patients’ Emotional Distress. A Randomized Clinical Trial.” Archives of Internal Medicine 155, no. 17 (September, 25 1995): 1877-84.
  7. van Vliet, Liesbeth M., Elsken van der Wall, Akke Albada, Peter M. M. Spreeuwenberg, William Verheul, and Jozien M. Bensing. “The Validity of Using Analogue Patients in Practitioner-Patient Communication Research: Systematic Review and Meta-Analysis.” Journal of General Internal Medicine 27, no. 11 (November, 2012): 1528-43.251
  8. Riess, Helen, John M. Kelley, Robert W. Bailey, Emily J. Dunn, and Margot Phillips. “Empathy Training for Resident Physicians: A Randomized Controlled Trial of a Neuroscience-Informed Curriculum.” Journal of General Internal Medicine 27, no. 10 (October, 2012): 1280-6.
  9. Bylund, Carma L., and Gregory Makoul. “Examining Empathy in Medical Encounters: An Observational Study Using the Empathic Communication Coding System.” Health Communication 18, no. 2 (2005): 123-40.
  10. Dempsey, Christina. The Antidote to Suffering: How Compassionate Connected Care Can Improve Safety, Quality, and Experience. New York: McGraw-Hill Education, 2017.
  11. Mogilner, Cassie, Zoe Chance, and Michael I. Norton. “Giving Time Gives You Time.” Psychological Science 23, no. 10 (October 1, 2012): 1233-8.
  12. Youngson, Robin. Time to Care: How to Love Your Patients and Your Job. Scotts Valley: CreateSpace, 2012.
  13. Youngson, Robin. “Practising Compassion in an Uncompassionate Health System.” Hearts in Healthcare. Published electronically September 1, 2017.

14. Compassionomics – the revolutionary scientific evidence that caring makes a difference, Booker, Cory Mazzarelli, Anthony Trzeciak, Steph, Chapter 8, 2019.

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

BÀI VIẾT GẦN ĐÂY

5 1 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Góp ý
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x