Thuốc Chống Trầm Cảm – Hiệu Quả Đến Đâu?

[create_shortcode_tag]
Thuốc Chống Trầm Cảm – Hiệu Quả Đến Đâu?

Mức Độ Hiệu Quả của Thuốc Chống Trầm Cảm

Một nghiên cứu mang tính bước ngoặt năm 2004, theo dõi hàng trăm bệnh nhân được điều trị bằng một trong ba loại thuốc chống trầm cảm phổ biến: Zoloft (sertraline), Paxil (paroxetine) hoặc Prozac (fluoxetine).

Trong số những người dùng thuốc theo chỉ định, chỉ 23% khỏi trầm cảm sau sáu (6) tháng điều trị. Và cả ba loại thuốc đều mang lại kết quả gần tệ như nhau.[1]

Tỷ lệ phục hồi với thuốc chống trầm cảm trong các nghiên cứu tương tự thường rơi vào khoảng 20% đến 35%. Các nhà nghiên cứu lâm sàng tại 41 địa điểm điều trị trên toàn nước Mỹ vừa hoàn thành nghiên cứu thực tế lớn nhất về thuốc chống trầm cảm từng được thực hiện và kết quả phù hợp với cùng một mô hình tổng thể.

Dự án hàng triệu đô la này, được tài trợ bởi Viện Sức khỏe Tâm thần Quốc gia Hoa Kỳ (the National Institutes of Mental Health), đã theo dõi khoảng 3,000 bệnh nhân trầm cảm ban đầu dùng thuốc Celexa (citalopram) trong khoảng 12 tuần. Vào cuối thời gian điều trị ngắn hạn đó, chỉ có 28% bệnh nhân trong nghiên cứu đã hồi phục hoàn toàn.[6]

Tỷ lệ đáp ứng 28% của nghiên cứu thậm chí có thể là một đánh giá quá cao về hiệu quả thực sự của thuốc, bởi vì bệnh nhân nhận được liều thuốc cao hơn và đi khám bác sĩ thường xuyên hơn so với những người BN trong thực hành lâm sàng hàng ngày.

Các nhà nghiên cứu không ngạc nhiên khi thấy rằng phần lớn bệnh nhân trong nghiên cứu không thể hồi phục khi dùng thuốc chống trầm cảm. Trong bài viết được xuất bản của nghiên cứu, các nhà nghiên cứu cũng đưa ra một câu hỏi khiêu khích: Bao nhiêu phần trăm bệnh nhân của họ có thể đã hồi phục nếu họ được uống một viên đường – giả dược- thay vì thuốc? Nó có thể cao tới 28% không?

Irving Kirsch, một nhà nghiên cứu lâm sàng tại Đại học Connecticut, gần đây đã cho thấy nó có thể khó khăn như thế nào. Theo Đạo luật Tự do Thông tin, ông đã kiến nghị với FDA về kết quả của mọi nghiên cứu về công ty dược phẩm được đệ trình trong khoảng thời gian mười ba (13) năm (1987– 1999) cho sáu (6) loại thuốc chống trầm cảm thường được sử dụng: Zoloft (sertraline), Effexor (venlafaxine), Prozac (fluoxetine), Celexa (citalopram), Paxil (paroxetine), và Serzone (nefazodone).

Đáng kinh ngạc, ông phát hiện ra rằng trong 56% các nghiên cứu này, những bệnh nhân trầm cảm dùng thuốc chống trầm cảm không tốt hơn những người dùng giả dược. Không có gì ngạc nhiên khi các công ty dược phẩm chưa bao giờ công bố hầu hết các nghiên cứu này.[2]

Khi Kirsch kết hợp các kết quả nghiên cứu về thuốc chống trầm cảm của FDA vào một phân tích khổng lồ, ông đã tìm thấy một số bằng chứng cho thấy thuốc hoạt động tốt hơn giả dược – nhưng chỉ tốt hơn một chút. Nhìn chung, tác dụng của giả dược lớn bằng 80% so với tác dụng của thuốc – tương đương với chênh lệch 2 điểm trên thang đánh giá trầm cảm 50 điểm của nghiên cứu. Sự khác biệt này, như Kirsch đã nói, “rất nhỏ và có ý nghĩa lâm sàng đáng kể.”

Và kết quả gây sốc này không chỉ là công trình của một nghiên cứu viên duy nhất; nó hiện đã được nhân rộng bởi những người khác, những người đã xem xét độc lập cơ sở dữ liệu của FDA và đi đến những kết luận cơ bản giống nhau.

Vậy thì thuốc chống trầm cảm có phải chỉ là giả dược với các tác dụng phụ khó chịu không? Trước khi đi đến một kết luận căn cơ như vậy, chúng ta cần xem xét một điểm quan trọng của câu chuyện.

Trong số những bệnh nhân trầm cảm nặng – những người có các triệu chứng nghiêm trọng đến mức họ không thể sinh hoạt bình thường được nữa, thuốc trầm cảm đã được phát hiện là hiệu quả tốt hơn nhiều so với giả dược.

Mặc dù hầu hết bệnh nhân trầm cảm nặng không được chữa khỏi hoàn toàn bằng thuốc chống trầm cảm, nhưng ít nhất một nửa trong số họ sẽ cải thiện đáng kể trong vòng một hoặc hai tháng. Để so sánh, rất ít bệnh nhân như vậy cải thiện được khi dùng một viên giả dược.

Nhưng vấn đề ở chỗ, đại đa số những người bị trầm cảm có thể chẩn đoán được lại không bị tới mức nặng như vậy. Họ vẫn có thể – với một số khó khăn – tiếp tục làm việc và tương tác với gia đình và bạn bè.

Và trong số những người trầm cảm mức nhẹ hơn này, thuốc chống trầm cảm và giả dược hoạt động hiệu quả như nhau. Điều này có nghĩa là hầu hết những người dùng thuốc chống trầm cảm không nhận được nhiều lợi ích hơn so với những gì họ sẽ nhận được từ một viên kẹo.

Tuy nhiên, nếu các bác sĩ bắt đầu kê những viên thuốc giả dược – được dán nhãn như vậy – thì bệnh nhân của họ sẽ ít cải thiện. Tại sao?

Bởi vì hiệu ứng giả dược phụ thuộc vào một yếu tố quan trọng của sự lừa dối: Người dùng thuốc phải tin rằng đó là một loại thuốc có hoạt tính. Họ phải tin rằng nó sẽ hữu ích. Đó là những gì cho phép những viên giả dược phát huy tác dụng chữa bệnh.

Kỳ vọng tích cực do giả dược gây ra có thể tác động mạnh mẽ lên não, làm tăng hoạt động trong các mạch của vỏ não trước vốn không hoạt động trong bệnh trầm cảm. Những thay đổi như vậy trong chức năng não đôi khi có khả năng làm giảm các triệu chứng trầm cảm một cách ấn tượng.

Nhưng sẽ là phi đạo đức nếu một bác sĩ lừa dối bệnh nhân bằng cách đưa cho họ những viên kẹo dán nhãn thuốc, chẳng hạn như “Zoloft”. Đó là lý do tại sao không ai dùng giả dược cho chứng trầm cảm trong thế giới thực.

Nó chỉ xảy ra trong các nghiên cứu, nơi bệnh nhân có thể đồng ý được cho ngẫu nhiên thuốc chống trầm cảm hoặc giả dược có hình dáng và mùi vị giống như thuốc, nhưng không có tác dụng về mặt y học.

Đáng ngạc nhiên là hầu hết các bệnh nhân tham gia nghiên cứu đều tin rằng họ đang nhận được một loại thuốc tích cực, bất kể họ đang dùng thuốc thật hay giả dược và điều này giải thích tại sao giả dược có thể hoạt động tốt như thuốc chống trầm cảm trong những điều kiện như vậy.

Tuy nhiên, hãy nhớ rằng cả giả dược và thuốc chống trầm cảm đều không có hiệu quả đặc biệt. Như chúng ta đã thấy, thuốc chống trầm cảm giúp phục hồi hoàn toàn trong thời gian ngắn cho khoảng một phần tư (1/4) số bệnh nhân trầm cảm. Khoảng 25% khác sẽ cải thiện đáng kể trong vòng vài tháng, nhưng vẫn sẽ có một số triệu chứng kéo dài.

Và khoảng một nửa (1/2) số bệnh nhân trầm cảm sẽ không cải thiện đáng kể khi dùng thuốc. Những con số này có vẻ giống nhau đối với mọi loại thuốc chống trầm cảm chính; Không có bằng chứng thuyết phục nào cho thấy bất kỳ loại thuốc trầm cảm cụ thể nào có tác dụng trung bình tốt hơn nhiều so với bất kỳ loại thuốc nào khác.

Ngay cả khi thuốc chống trầm cảm có hiệu quả trong thời gian ngắn, tác dụng chữa bệnh của chúng không phải lúc nào cũng kéo dài. Theo thời gian, các loại thuốc có thể chỉ đơn giản là giảm hoặc hết hiệu quả.

Trong trường hợp điển hình, bệnh nhân trung thành dùng thuốc trong nhiều tháng — đôi khi trong nhiều năm — và sau đó chỉ cần thức dậy vào một ngày nào đó, các triệu chứng trầm cảm trở lại mạnh như cũ. Thường thì họ thậm chí không thể chỉ ra một sự kiện căng thẳng rõ ràng để lấy đó làm nguyên nhân.

Theo nghiên cứu tốt nhất, có đến 50% những người phản ứng tốt với thuốc chống trầm cảm sẽ tái phát trầm cảm vào một thời điểm nào đó. Và bởi vì hầu hết bệnh nhân trầm cảm không thể hồi phục hoàn toàn khi dùng thuốc ngay từ đầu, chúng ta biết rằng chỉ có ít hơn một phần tư (25%) đủ may mắn để khỏe mạnh và duy trì tốt với thuốc chống trầm cảm.[3]

Thật tốt biết bao nếu thuốc chống trầm cảm đem đến một phương pháp chữa trị đích thực cho sự tàn khốc của bệnh trầm cảm — nếu chúng dẫn đến sự hồi phục lâu dài cho đại đa số những người dùng. Nhưng thuốc nó không tốt như vậy và điều quan trọng là phải đối mặt với sự thật, đặc biệt là khi cân nhắc phối hợp các lựa chọn điều trị khác có sẵn.

Tác Dụng Phụ của Thuốc Chống Trầm Cảm

Có một nhược điểm tiềm ẩn khác đối với thuốc chống trầm cảm: Nhiều người bỏ thuốc vì các tác dụng phụ khó chịu. Theo một nghiên cứu gần đây, bệnh nhân điển hình sẽ ngừng sử dụng thuốc được kê đơn chỉ sau tám (8) tuần. Và tất nhiên, khi mọi người ngừng dùng thuốc, họ sẽ ít có khả năng nhận được bất kỳ lợi ích lâu dài nào hơn.[4]

Nhưng các tác dụng phụ chính của thuốc chống trầm cảm là gì và chúng xảy ra với tần suất như thế nào? Mặc dù các câu trả lời có thể khác nhau một chút từ loại thuốc này sang loại thuốc khác, nhưng nhiều tác dụng phụ có thể coi là tương tự cho các loại thuốc trầm cảm trên diện rộng. Tiếp theo là một số đơn cử.

Tự Tử

Trong tất cả những mặt trái tiềm ẩn của việc sử dụng thuốc chống trầm cảm, không có gì đáng lo ngại hơn xu hướng được báo cáo là gây ra suy nghĩ và hành vi tự sát ở trẻ em và thanh thiếu niên. Thật khó để tin rằng bất kỳ loại thuốc nào — chứ đừng nói đến một loại thuốc được thiết kế để chống lại bệnh trầm cảm — lại có thể có tác dụng đáng sợ như vậy.

Nhưng khi dữ liệu được thu thập trong những năm gần đây, rõ ràng là những loại thuốc này có nguy cơ thực sự làm tăng tình trạng tự tử ở nhóm tuổi này. Bằng chứng về điểm này thuyết phục đến mức Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (US FDA) hiện yêu cầu tất cả các loại thuốc chống trầm cảm phải mang nhãn cảnh báo “hộp đen”.[5]

Cảnh báo này được đưa ra vào cuối năm 2004, sau khi các nhà nghiên cứu của FDA – dưới áp lực dữ dội cần công khai dữ liệu – đã xem xét cơ sở dữ liệu của họ về hai mươi bốn (24) nghiên cứu về thuốc chống trầm cảm liên quan đến 4,400 thanh thiếu niên và trẻ em.

Đáng kinh ngạc, họ phát hiện ra rằng những người trẻ tuổi đang dùng thuốc chống trầm cảm có khả năng có ý định và hành vi tự sát cao gấp đôi (2) so với những người dùng giả dược. Rủi ro có vẻ đặc biệt cao trong vài tuần đầu điều trị, khi việc theo dõi chặt chẽ thường được khuyến cáo.

Mặc dù nguy cơ gia tăng tự tử liên quan đến y học dường như tương đối nhỏ – chỉ ảnh hưởng đến 4% thanh niên trong cơ sở dữ liệu của FDA – nhưng hậu quả tiềm ẩn rất thảm khốc nên phát hiện này phải được xem xét một cách nghiêm túc.

Rốt cuộc, có bao nhiêu bậc cha mẹ sẽ cho con mình uống thuốc kháng sinh nếu họ biết rằng loại thuốc này mang lại 4% nguy cơ suy nghĩ hoặc hành vi tự sát? Chắc rằng hầu hết mọi người sẽ nỗ lực tìm kiếm các lựa chọn điều trị khả thi khác.

Và không chỉ trẻ em và thanh thiếu niên phải đối mặt với tình trạng tự tử gia tăng khi sử dụng thuốc chống trầm cảm. Một phân tích gần đây hơn của FDA cũng cho thấy nguy cơ gia tăng đáng kể ở thanh niên đến 25 tuổi. Thật kỳ lạ, không có nguy cơ như vậy được quan sát thấy ở những người lớn trên 25 tuổi. Lý do cho sự khác biệt này vẫn chưa được biết.

Tê Liệt Cảm Xúc

Một tác dụng phụ phổ biến hơn của thuốc là làm tê liệt cảm xúc, giảm cường độ cảm xúc – cả tích cực và tiêu cực. Mặc dù hiện tượng này chưa được công bố rộng rãi, nhưng có một số bằng chứng cho thấy nó có thể ảnh hưởng đến phần lớn những người dùng thuốc chống trầm cảm.

Khi một người lần đầu tiên bắt đầu sử dụng thuốc, việc làm giảm cảm xúc này có thể là một trải nghiệm đáng hoan nghênh – giúp giảm bớt nỗi đau hành hạ do trầm cảm.

Nhưng nhiều người sau đó phát hiện ra họ không còn có thể cảm nhận được những cảm xúc tích cực như vui vẻ, phấn khích và tình yêu lãng mạn mãnh liệt như trước nữa.

Điều đáng lo là một số bệnh nhân mắc chứng tê liệt cảm xúc này lại không biết gì về nó. Nó có xu hướng xuất hiện dần dần đến mức nó trở thành “bình thường mới”. Nghịch lý là: Sự tê liệt cảm xúc làm suy yếu khả năng của một người trong việc nhận thấy (và quan tâm) đến sự tê liệt cảm xúc của chính họ.

Rối Loạn Chức Năng Tình Dục

Một số loại thuốc chống trầm cảm được kê đơn rộng rãi nhất thuộc nhóm SSRI (chất ức chế tái hấp thu serotonin có chọn lọc), bao gồm Zoloft (sertraline), Lexapro (escitalopram oxalate), Celexa (citalopram), Prozac (fluoxetine), và Paxil (paroxetine). Tất cả các loại thuốc này đều ảnh hưởng đến chức năng của một chất hóa học trong não là serotonin.

Bởi vì các mạch serotonin giúp điều chỉnh các trung tâm khoái cảm của não, nhiều người dùng SSRIs gặp phải các tác dụng phụ về tình dục – thường là giảm khoái cảm hoặc ham muốn tình dục.

Một số người hoàn toàn mất khả năng đạt cực khoái, và những người khác lại trải qua sự suy giảm của tất cả các cảm xúc lãng mạn, không chỉ là ham muốn tình dục của họ.

Và những vấn đề này không chỉ là các tác dụng phụ đến từ các thuốc nhóm SSRI. Chúng phổ biến với các loại thuốc khác ảnh hưởng đến việc sử dụng serotonin của não, chẳng hạn như Effexor (venlafaxine), Serzone (nefazodone) và Cymbalta (duloxetine).

Tăng Cân

Mặc dù hiếm khi được báo cáo rộng rãi, nhưng tăng cân là một tác dụng phụ có thể xảy ra của hầu hết các loại thuốc chống trầm cảm (đặc biệt là khi sử dụng lâu dài).

Mất Ngủ

Hầu hết các SSRI và các loại thuốc tương tự cũng có khả năng gây mất ngủ cho một số ít bệnh nhân. Những loại thuốc như vậy đôi khi khiến mọi người có các cử động chân tay theo chu kỳ và chứng nghiến răng khi ngủ và điều này có thể dẫn đến việc thường xuyên tỉnh giấc. Do đó, giấc ngủ kém chất lượng có thể khiến các triệu chứng trầm cảm khác trở nên tệ hơn.

Vậy ngoài thuốc, còn có các lựa chọn nào khác cho BN trầm cảm, các bạn có thể đọc thêm TẠI ĐÂY.

Lưu ý: bài viết này chỉ mang tính chia sẻ thông tin, nó không thể thay thế cho các biện pháp điều trị lâm sàng và tham vấn tâm lý. Bạn cần tham khảo ý kiến bác sĩ tâm thần hoặc các chuyên gia tâm lý trị liệu để giải quyết tận gốc các khó khăn tâm lý của bản thân.

Ghi chú:
1. Corey-Lisle PK, Nash R, Stang P, Swindle R. Response, Partial Response, and Nonresponse in Primary Care Treatment of Depression. Arch Intern Med. 2004;164(11):1197–1204. doi:10.1001/archinte.164.11.1197

2. Kirsch, Irving. (2014). Antidepressants and the Placebo Effect. Zeitschrift fur Psychologie. 222. 128-134. 10.1027/2151-2604/a000176.

3. Mueller TI, Leon AC, Keller MB, Solomon DA, Endicott J, Coryell W, Warshaw M, Maser JD. Recurrence after recovery from major depressive disorder during 15 years of observational follow-up. Am J Psychiatry. 1999 Jul;156(7):1000-6. doi: 10.1176/ajp.156.7.1000. PMID: 10401442.

4. Higashi K, Medic G, Littlewood KJ, Diez T, Granström O, De Hert M. Medication adherence in schizophrenia: factors influencing adherence and consequences of nonadherence, a systematic literature review. Ther Adv Psychopharmacol. 2013 Aug;3(4):200-18. doi: 10.1177/2045125312474019. PMID: 24167693; PMCID: PMC3805432.

5. http://www.fda.gov/cder/drug/antidepressants/SSRIlabelChange.htm.

6. Trivedi MH, Rush AJ, Wisniewski SR, Nierenberg AA, Warden D, Ritz L, Norquist G, Howland RH, Lebowitz B, McGrath PJ, Shores-Wilson K, Biggs MM, Balasubramani GK, Fava M; STAR*D Study Team. Evaluation of outcomes with citalopram for depression using measurement-based care in STAR*D: implications for clinical practice. Am J Psychiatry. 2006 Jan;163(1):28-4

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

BÀI VIẾT GẦN ĐÂY

5 1 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Góp ý
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x